Giao lưu trực tuyến cùng Vụ trưởng Pháp luật Quốc tế Bạch Quốc An và Q. Vụ trưởng Vụ ASEAN Vũ Hồ

05/06/2017

Để người dân hiểu rõ hơn về ASEAN cũng như nhưng cơ hội, thách thức và triển vọng của Việt Nam trong vai trò thành viên của cộng đồng ASEAN hiện nay, hai khách mời của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật và Báo Pháp luật Việt Nam là ông Bạch Quốc An, Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp và ông Vũ Hồ, Q.Vụ trưởng Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao đang giao lưu trực tuyến cùng độc giả. Cùng tham dự Chương trình đối thoại có sự tham dự của ông Đỗ Xuân Lân, Vụ trưởng Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Vụ trưởng Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp.

ASEAN là tên viết tắt của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations), được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Băng-cốc bởi Bộ trưởng Ngoại giao các nước sáng lập là ln-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi a, Phi-líp pin, Thái Lan và Xinh-ga-po.

Trong hơn 40 năm tồn tại và phát triển, ASEAN từ một Hiệp hội đơn sơ của các quốc gia trong khu vực dần phát triển thành một tổ chức quy mô với nội dung hợp tác ngày càng sâu rộng và chặt chẽ. Ngày nay, các hoạt động hợp tác của ASEAN đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội các quốc gia Đông Nam Á. ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực có ảnh hưởng nhất ở Đông Nam Á và có vai trò quan trọng ở khu vực Đông Á. Với việc ASEAN ký kết và phê chuẩn Hiến chương ASEAN, hợp tác ASEAN đã có nền tảng pháp lý và khuôn khổ thể chế để có bước phát triển mới, hướng tới việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật phối hợp cùng Báo PLVN tổ chức buổi đối thoại trực tuyến để cung cấp cho người dân những thông tin hữu  ích về ASEAN và vai trò của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN

*. Về Cộng đồng kinh tế ASEAN:  Mười ba năm sau khi đưa ra ý tưởng đầu tiên, lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á đã chính thức khai sinh một cộng đồng kinh tế thống nhất ở một khu vực đông dân và đa dạng hơn Liên minh châu Âu hoặc Bắc Mỹ.

Cộng đồng kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC (Asean Economic Community), kết nối nền kinh tế của 10 quốc gia ASEAN với quy mô dân số khoảng 630 triệu người, được kỳ vọng sẽ giúp khu vực này cạnh tranh hiệu quả hơn với hai nền kinh tế lân cận Trung Quốc và Ấn Độ.

AEC – được 10 nhà lãnh đạo ASEAN ký tuyên bố chính thức vào sáng 22/11/2015 trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2015 tại Kuala Lumpur, Malaysia - cũng là một phần của Cộng đồng ASEAN (ASEAN Community) rộng lớn hơn, là một trong 3 “cột trụ” của Cộng đồng ASEAN bên cạnh hai cột trụ về chính trị-an ninh và văn hóa-xã hội.

Ông Đỗ Xuân Lân, Vụ trưởng Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp phát biểu cảm ơn các chuyên gia tham dự Chương trình đối thoại

Bạn đọc Nguyễn Đức Dũng, Hoàn Kiếm, Hà Nội: Xin được hỏi ông Vũ Hồ, ông có thể giới thiệu để người dân hiểu rõ hơn về ASEAN cũng như nhưng cơ hội, thách thức và triển vọng của Việt Nam trong vai trò thành viên của cộng đồng ASEAN hiện nay?

Ông Vũ Hồ (phải), Q. Vụ trưởng ASEAN, Bộ Ngoại giao đang giải đáp những câu hỏi của độc giả về ASEAN

Ông Vũ Hồ: Ngày 08/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, viết tắt là ASEAN, được thành lập với mục tiêu tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá-xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện cho các nước hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới. Sau gần 50 năm hình thành và phát triển, đến nay, ASEAN đã hiện thực hóa được ý tưởng một ASEAN bao gồm cả 10 thành viên trong khu vực Đông Nam Á, ra đời Hiến chương ASEAN (năm 2008) và chính thức hình thành Cộng đồng ASEAN với 3 trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội vào ngày 31/12/2015.

ASEAN là một tổ chức liên chính phủ với sự phong phú, đa dạng về mọi mặt của 10 nước thành viên từ lịch sử, nguồn gốc dân tộc và sắc tộc, về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, thể chế chính trị hay trình độ phát triển kinh tế. ASEAN được đánh giá là mô hình liên kết khu vực thành công; luôn kiên định với mục tiêu phát triển, biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh; là tổ chức “mở” và có quan hệ rộng mở với nhiều đối tác trên thế giới.

Nguyên tắc cơ bản của ASEAN là Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, bản sắc dân tộc; Không xâm lược hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giải quyết hòa bình các tranh chấp; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. ASEAN hoạt động theo phương thức tham vấn và đồng thuận trong việc ra quyết sách, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong quan hệ đối ngoại và tiệm tiến trong hội nhập khu vực.

Những cơ hội, thách thức và triển vọng của Việt Nam trong vai trò thành viên của cộng đồng ASEAN hiện nay:

- Tham gia ASEAN đã mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích quan trọng và thiết thực mà bao trùm là tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; và có thể khái quát gồm: (i) Duy trì môi trường khu vực hòa bình và ổn định thuận lợi cho an ninh và phát triển của ta; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi và thế chiến lược tốt hơn cho Việt Nam trong quan hệ với các đối tác bên ngoài, nhất là các nước lớn, cũng như khi tham gia các tổ chức hợp tác đa phương rộng lớn hơn; (iii) Giúp ta mở rộng tiếp cận thị trường các nước và trở nên hấp dẫn hơn đối với đầu tư và kinh doanh từ bên ngoài; (iv) tiếp cận thông tin, kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực thông qua việc tham gia nhiều hoạt động/dự án hợp tác; (v) giúp ta nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và cải cách thể chế, luật lệ trong nước cho phù hợp với chuẩn mực khu vực và quốc tế.

- Các thách thức: Tiến độ, chất lượng và hiệu quả hợp tác ASEAN còn thấp; Duy trì đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN nhiều khi rất khó khăn và phải trải qua một quá trình tham vấn kéo dài; Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của ASEAN còn cồng kềnh, họp hành nhiều, hiệu quả chưa cao. Ta chưa có sự nhận thức đầy đủ, đúng mức và đồng nhất về tầm quan trọng của việc tham gia ASEAN; Chưa có nhiều sáng kiến và đề xuất có giá trị để tranh thủ những cơ hội và lợi ích tiềm tàng.

Bạn đọc Cấn Thị Hằng, ở Thuỷ Nguyên, Hải Phỏng hỏi:  Xin hỏi ông Vũ Hồ là Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ tác động thế nào đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của các nước thành viên của khối nói chung và đối với Việt Nam nói riêng? Ông có thể đưa ra một số lời khuyên cho người dân và doanh nghiệp để khai thác những lợi thế?

Ông Vũ Hồ: Theo Báo cáo chung của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), AEC sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế trong khu vực thêm 7,1% vào năm 2025, đồng thời tạo ra 14 triệu việc làm mới. Tại Việt Nam, nơi tập trung 1/6 lao động của cả khu vực, điều này đồng nghĩa với tăng GDP thêm 14,5% và sẽ có thêm hàng triệu việc làm mới.

Ông Vũ Hồ (trái)

- AEC mang lại một thị trường rộng lớn với dân số trên 622 triệu người, tổng GDP hàng năm đạt gần 3000 tỷ USD và tại đây hàng rào thuế quan hầu như được hoàn toàn loại bỏ, các hàng rào phi thuế quan ngày càng hạn chế. Bên cạnh đó, AEC cũng là khu vực giao thoa của nhiều thoả thuận thương mại song phương và đa phương. Do vậy, các quốc gia thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn, phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand hay Ấn Độ thông qua các hiệp định thương mại đã có giữa ASEAN và các nước trên. Đây là điều kiện thuận lợi để các nước ASEAN giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh. ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam.

- Tăng cường thu hút các luồng đầu tư có chất lượng, phù hợp với nhu cầu phát triển thông qua Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA). ASEAN là nguồn cung FDI quan trọng của Việt Nam, đồng thời cũng là cầu nối cho nhiều khoản đầu tư của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại ASEAN. Theo số liệu từ Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/7/2016 có 3.040 dự án đầu tư còn hiệu lực từ các nước ASEAN vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 64,475 tỷ USD.

- Cơ hội cải thiện, phát triển cơ sở hạ tầng trên cơ sở triển khai Sáng kiến Kết nối ASEAN.

- AEC còn là cơ hội để Việt Nam tiếp tục thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng giá trị gia tăng, đưa Việt Nam lên vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng và giá trị khu vực và toàn cầu. Theo thống kê, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong ASEAN đang có sự dịch chuyển tích cực, cả về chất lượng và giá trị xuất khẩu. Ngoài những mặt hàng truyền thống là nguyên nhiên liệu, mặt hàng sơ chế như dầu thô, gạo, cà phê và cao su, Việt Nam đã xuất khẩu được những mặt hàng có hàm lượng chế tác cao như các mặt hàng công nghiệp, máy tính, sản phẩm nông sản, thuỷ sản đã qua chế biến, hoá mỹ phẩm. AEC tạo thêm điều kiện để Việt Nam củng cố chiều hướng này.

Một số lời khuyên cho người dân và doanh nghiệp:

- Đối với doanh nghiệp: Để có thể cạnh tranh và khai thác những lợi thế mà Cộng đồng Kinh tế ASEAN mang lại, doanh nghiệp cần tập trung phát triển chiến lược kinh doanh hướng tới khu vực, nâng cao năng lực quản trị, khả năng tự đổi mới và nghiên cứu đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường, có lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên quan tâm nghiên cứu, cập nhật các thông tin trên cơ sở các văn bản hợp tác kinh tế trong khuôn khổ AEC, để từ đó có thể khai thác hiệu quả các văn bản này cho hoạt động sản xuất kinh doanh.    

- Đối với người dân: Trong ASEAN, người dân luôn là trung tâm trong mọi chính sách, mọi vấn đề ASEAN đưa ra thảo luận. Để có thể khai thác được những lợi ích mà AEC mang lại, người dân cần tự trang bị các kiến thức về Cộng đồng Kinh tế ASEAN nói riêng và Cộng đồng ASEAN nói chung, xây dựng ý thức của một công dân trong mái nhà chung ASEAN và tăng cường giao lưu với nhân dân các nước trong khu vực.  

Với người lao động, cơ hội tìm kiếm việc làm tại các nước ASEAN với mức thu nhập hấp dẫn sẽ rộng mở nếu người lao động có được tay nghề tốt, bằng cấp/chứng chỉ nghề phù hợp cùng với trình độ Tiếng Anh, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc tốt.

Bạn đọc Quách Thị Lan ở Đà Nẵng hỏi (câu hỏi xin gửi tới ông Bạch Quốc An): Pháp luật các nước trong Cộng đồng kinh tế ASEAN có khác nhau không thưa ông? Điều này có ảnh hưởng gì tới mối quan hệ của các nước với nhau không?

Ông Bạch Quốc An (phải) đang trả lời câu hỏi của bạn đọc

Ông Bạch Quốc An: Thứ nhất, các nước ASEAN có hệ thống pháp luật riêng của mình. Hệ thống này khác nhau. Ví dụ như Việt Nam Lào theo hệ thống pháp luật thành văn. Các nwocs như Singapo theo án lệ, thông luật. Như vậy, bản chất của hệ thống pháp luật có sự khác nhau như vậy, nên việc xây dựng hệ thống quy định của ASEAN là rất cần thiết, để các nước thành viên có thể thực hiện được nghĩa vụ của mình trên cơ sở pháp luật trong nước của mình. Cái khó khăn rất khó, Các nước có nền tảng khác nhau,nên việc đàm phán tốn rất nhiều thời gian, công sức. Vì truyền thống khác nhau, sẽ có cách hiểu khác nhau. Như vậy, đây là quá trình các nước vừa đấu tranh, vừa hợp tác để tìm ra tiếng nói chung. 

Bạn đọc Nguyễn Đức Minh ở Tp Hồ Chí Minh hỏi ông Bạch Quốc An: Khi Việt Nam đã là thành viên của ASEAN cũng như thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN thì việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để đảm bảo sự tương thích với hệ thống pháp luật ASEAN được đặt ra và được triển khai như thế nào? Từ câu chuyện hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để đảm bảo sự tương thích với hệ thống pháp luật ASEAN, ông nhận định như thế nào về vai trò của Bộ Tư pháp trong tham mưu hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế?
 Ông Bạch Quốc An: Vai trò của Bộ Tư pháp thể hiện trong công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế. Việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế. Việc thẩm định điều ước quốc tế để xác định sự phù hợp với pháp luật trong nước, trong trường hợp cần thiết thì ban hành văn bản pháp luật để thực hiện các điều ước quốc tế đó.
Ngoài ra, Bộ tư pháp thường được giao nhiệm vụ rà soát các điều ước quốc tế với quy định của pháp luật trong nước, để có đề suất hoàn thiện pháp luật, đảm bảo thực thi điều ước quốc tế thông qua việc xây dựng các chương trình làm luật của Quốc hội và Chính phủ. Đối với việc tổ chức thi hành pháp luật, thì công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, ngoài việc căn cứ vào pháp luật trong nước, còn phải căn cứ vào các điều ước mà Việt Nam là thành viên.

Bạn đọc Phạm Tiến Bình ở thành phố Hồ Chí Minh hỏi:  (câu hỏi xin gửi tới ông Bạch Quốc An): Cộng đồng kinh tế ASEAN có tính tới việc sử dụng một đồng tiền chung không? Nếu gặp khó khăn về kinh tế thì 1 nước có được tách ra khỏi Cộng đồng không, thưa ông?

Ông Bạch Quốc An: Hiện nay các nước ASEAN chưa thống nhất việc có một đồng tiền chung hay không. Các nước có đưa ra ý tưởng nhưng chưa thống nhất được với nhau. Về ý thứ hai bạn hỏi, tôi xin trả lời như sau: Trong hiến chương của ASEAN không nói về việc một nước có thể rút ra khỏi cộng đồng. Tuy nhiên, các quốc gia đều là chủ thể của luật quốc tế, họ có quyền tự quyết theo quy định của pháp luật quốc tế. Ở ASEAN, có một cơ chế hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ, khi một quốc gia bị khủng hoảng tài chính, cộng đồng kinh tế ASEAN có cơ chế hỗ trợ giữa các quốc gia nhằm giúp quốc gia bị ảnh hưởng có thể thoát khỏi khủng hoảng. 

Nhiều độc giả quan tâm gửi câu hỏi tới ông Bạch Quốc An 

Về ý thứ hai bạn hỏi, tôi xin trả lời như sau: Trong hiến chương của ASEAN không nói về việc một nước có thể rút ra khỏi cộng đồng. Tuy nhiên, các quốc gia đều là chủ thể của luật quốc tế, họ có quyền tự quyết theo quy định của pháp luật quốc tế. Ở ASEAN, có một cơ chế hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ, khi một quốc gia bị khủng hoảng tài chính, cộng đồng kinh tế ASEAN có cơ chế hỗ trợ giữa các quốc gia nhằm giúp quốc gia bị ảnh hưởng có thể thoát khỏi khủng hoảng.

Bạn đọc Trần Thị Ngân ở Bắc Giang hỏi: (câu hỏi xin gửi tới ông Vũ Hồ): Tôi đã nghe nói nhiều về Cộng đồng kinh tế ASEAN nhưng thực sự cũng không hiểu lắm. Ông có thể cho biết rõ hơn thông tin về Cộng đồng kinh tế ASEAN?

Ông Vũ Hồ: Có thể hiểu ngắn gọn, Cộng đồng Kinh tế ASEAN là một hiệp định thương mại tự do mở rộng giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN. Trong đó, bên cạnh các lĩnh vực tự do thương mại truyền thống là thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, ASEAN còn đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực chuyên ngành, các lĩnh vực hợp tác mới như giao thông vận tải, nông nghiệp, viễn thông, năng lượng, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, sở hữu trí tuệ…

AEC được cấu thành bởi 4 thành tố là:

- Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, đầu tư; lao động có tay nghề và vốn.

- Một Khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.

- Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.

- Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc các chương trình hợp tác kinh tế với các đối tác, đàm phán ký kết các FTA ASEAN+1 và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu.

ASEAN có quan điểm và tầm nhìn dài hạn về liên kết kinh tế. ASEAN xác định quá trình xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN là một quá trình liên tục, thời điểm 31/12/2015 chỉ là một dấu mốc. ASEAN đã hoàn tất xây dựng Lộ trình tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2025, hướng tới một ASEAN tích cực hơn, với các khuôn khổ để vận hành cộng đồng kinh tế, tăng cường hợp tác với thế giới, ứng phó với tình hình phát triển mới và tìm kiếm các cơ hội mới. Mục tiêu tới năm 2025, ASEAN hướng tới một nền kinh tế ASEAN hội nhập sâu rộng, gắn kết chặt chẽ, tăng trưởng cao, và phát triển bền vững. AEC 2025 chú trọng vào phát triển xanh, thu hẹp khoảng cách phát triển, đẩy mạnh cơ chế quản lý nhạy bén và minh bạch, nâng cao hiệu suất thông qua các sáng kiến công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, và mở rộng kết nối ASEAN bằng các dự án hợp tác tiểu vùng. Một ASEAN tự cường, năng động, và sẵn sàng đối mặt với mọi thách thức sẽ củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực và thúc đẩy hội nhập và đóng góp tiếng nói chung vào nền kinh tế thế giới.

Bạn đọc Nguyễn Đức Dũng ở Ba Vì, Hà Nội hỏi: (câu hỏi xin gửi tới  ông Vũ Hồ): Xin ông cho biết lý do Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN? Gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN thì Việt Nam được gì, mất gì?

Những thông tin được ông Vũ Hồ đưa ra rất đầy đủ và dễ hiểu 

Ông Vũ Hồ: Việc Việt Nam gia nhập và tham gia AEC nói riêng và ASEAN nói chung luôn gắn liền và hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế.

Đây là kết quả của quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta qua các kỳ Đại hội Đảng, khởi đầu từ Đại hội VI (1986); phản ánh những yêu cầu chiến lược đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh xu hướng liên kết khu vực, toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, tác động đến các quốc gia, tổ chức và trực tiếp đến người dân.

2. Tham gia AEC mang lại nhiều lợi ích kinh tế quan trọng, nhất là gia tăng sức hấp dẫn đối với đầu tư và kinh doanh từ bên ngoài, đồng thời thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra các nước ASEAN; mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam sang các nước ASEAN và đối tác của ASEAN. ASEAN hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu) và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam. Năm 2016, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN đạt hơn 41,3 tỉ đô la Mỹ, chiếm hơn 12% tổng giá trị thương mại của Việt Nam.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) mang lại cơ hội xuất khẩu cho Việt Nam qua việc mở ra một thị trường chung rộng lớn, thống nhất với hơn 625 triệu người, tổng GDP hàng năm tiến gần tới 3000 tỷ USD. ASEAN hiện là nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới, dự báo sẽ giữ vị trí thứ 4 thế giới vào năm 2050. AEC cũng là khu vực giao thoa của nhiều hiệp định thương mại song phương và khu vực; kết nối ASEAN với các thị trường rộng lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân và Ấn Độ thông qua các FTA giữa ASEAN và các đối tác. Liên kết kinh tế ASEAN đã làm tăng tính hấp dẫn của thị trường ASEAN đối với các nhà đầu tư trong khối cũng như từ các nước đối tác; tạo cơ hội cho Việt Nam gia tăng thu hút các luồng đầu tư có chất lượng, phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước, đồng thời đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.

Ngoài ra, tham gia liên kết kinh tế ASEAN cũng tạo động lực cho ta hoàn thiện nền kinh tế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, tái cơ cấu kinh tế; tranh thủ được sự hỗ trợ từ các chương trình hợp tác ASEAN về thu hẹp khoảng cách phát triển và hợp tác tiểu vùng Mê-Công.

Thách thức của tham gia AEC là vấn đề cạnh tranh và năng lực đảm nhiệm các công đoạn giá trị cao. Hàng hóa Việt Nam sẽ bị cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa bởi nguồn hàng phong phú từ các nước ASEAN với chất lượng và giá cả cạnh tranh. Nếu sức cạnh tranh yếu, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó trên thị trường nội địa và khó có khả năng vươn ra, chiếm lĩnh trên thị trường các nước thành viên ASEAN khác. Doanh nghiệp năng lực kém sẽ không được chọn để tham gia các khâu có lợi nhuận cao của chuỗi cung ứng, do đó sẽ chủ yếu tham gia các công đoạn gia công. Người lao động trình độ thấp sẽ khó vươn lên các vị trí quản lý hay trở thành các chuyên gia có mức lương cao, khó di chuyển tự do và tận dụng tốt các cơ hội mở ra theo các cam kết hội nhập kinh tế khu vực.

Bạn đọc Đỗ Anh Tuấn ở Bến Tre hỏi: (câu hỏi xin gửi tới ông Vũ Hồ): Xin ông cho biết các nước trong Cộng đồng kinh tế ASEAN có thường xuyên có các quan điểm khác nhau về một vấn đề kinh tế nào đó không? Trong trường hợp cần quyết định mà mỗi nước mỗi ý thì phải làm sao?

Ông Vũ Hồ đang trả lời câu hỏi của bạn đọc Đỗ Anh Tuấn

Ông Vũ Hồ: ASEAN bao gồm 10 quốc gia thành viên với sự phong phú, đa dạng về lịch sử, nguồn gốc dân tộc và sắc tộc, về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế. Do đó, vẫn tồn tại những khác biệt giữa các quốc gia thành viên trong một số vấn đề.

Tuy nhiên, khi tham gia hợp tác kinh tế trong khu vực, bên cạnh mục tiêu đảm bảo lợi ích quốc gia, các quốc gia thành viên ASEAN luôn đảm bảo lợi ích của Cộng đồng và khu vực. Mọi vấn đề của ASEAN đều phải tham vấn tất cả các nước thành viên ASEAN và quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các nước thành viên đều nhất trí hoặc không phản đối. Phương thức này đã được áp dụng lâu dài và trở thành một nguyên tắc “bất thành văn” được các nước thành viên tôn trọng.

Độc giả rất quan tâm tới những thông tin do ông Vũ Hồ (phải) cung cấp

Bạn đọc Ngô Văn Toản ở Hải Phòng hỏi (câu hỏi xin gửi tới ông Vũ Hồ): Khi Việt Nam gia nhậpCộng đồng kinh tế ASEAN, chúng tôi muốn đi xuất khẩu lao động ở các nước trong khu vực có dễ dàng không? Lương trả cho người đi xuất khẩu lao động ở nước nào trong khu vực là cao nhất?

Ông Vũ Hồ: Tạo thuận lợi cho việc di chuyển của lao động có tay nghề là một ưu tiên trong xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN. ASEAN đã ký thỏa thuận công nhận lẫn nhau đối với 8 ngành dịch vụ: điều dưỡng, hành nghề y, nha khoa, kế toán, kỹ sư, kiến trúc, khảo sát và du lịch; và thông qua Khung tham chiếu trình độ ASEAN.

- Để có thể có cơ hội làm việc tại các nước trong ASEAN, người lao động cần phải có chứng chỉ được quốc gia điểm đến đó công nhận. Thứ hai là yêu cầu về ngôn ngữ, đa số yêu cầu là tiếng Anh. Thứ ba, yêu cầu về kỹ năng mềm, sức khỏe, sự am hiểu về văn hóa…

Đối với câu hỏi về mức lương cao và phúc lợi tốt cho người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài, đây là mong muốn chính đáng của người lao động. Theo quan điểm của tôi, để có được mức lương cao, thị trường lao động Việt Nam sẽ không xuất khẩu nhân sự sang các quốc gia như Lào, Campuchia hay Myanmar. Thay vào đó, mục tiêu hướng tới của chúng ta sẽ là các quốc gia Malaysia, Singapore, Thái Lan.

Bạn đọc Nguyễn Chiến, Quảng Nam gửi câu hỏi tới ông Bạch Quốc An: Khi người phạm tội là người Việt Nam, thực hiện hành vi phạm tội ở nước Lào, thì có được dẫn độ về Việt Nam xét xử không?

Ông Bạch Quốc An:  Trong ASEAN, chưa có hiệp định về dẫn độ, mà đang trong quá trình xây dựng hiệp định khung ASEAN về dẫn độ. Như vậy, trong trường hợp này, sẽ giải quyết trên có sở song phương. Giữa VN và Lào có hiệp định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và hình sự (có quyết định về dẫn độ). Vì vậy, việc xử lý sẽ trên cơ sở hiệp định song phương này. Trong trường hợp người Việt Nam phạm tội ở Lào. Tức là vi phạm pháp luật Lào, sẽ có thể phía Lào xét xử, trục xuất về Việt Nam, chứ không phải vi phạm pháp luật VIệt Nam để Việt Nam yêu cầu dẫn độ. Ngoài ra, còn có thể can thiệp qua con đường ngoại giao bằng biện pháp bảo hộ công dân.
Bạn đọc Trịnh Thanh Tú ở Long An hỏi: (câu hỏi xin gửi tới ông Bạch Quốc An): Tôi nghe nói Việt Nam gia nhập ASEAN đã lâu, chúng ta đã đóng góp được gì cho ASEAN?

Ông Bạch Quốc An: Đóng góp của Việt Nam vào ASEAN, VN có nhiều đóng góp. Thể hiện sự chủ động, tích cực của VN trong hội nhập quốc tế. VN đã đề suất được nhiều chủ trường, đường lối, hợp tác. Việt Nam tham gia giúp cho vai trò của ASEAN trên cộng đồng quốc tế được tăng cao hơn. Tăng được tính cạnh tranh của khối trên thị trường Quốc tế. Trong hợp tác pháp luật, Việt Nam cũng đóng một vai trò rất tích cực. Chẳng hạn năm vừa rồi, chúng ta đã tổ chức thành công diễn đàn pháp luật. 

Ông Bạch Quốc An (trái) đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN

Bạn đọc Trịnh Thanh Tú ở Long An hỏi: (câu hỏi xin gửi tới ông Bạch Quốc An): Tôi nghe nói Việt Nam gia nhập ASEAN đã lâu, chúng ta đã đóng góp được gì cho ASEAN?

Ông Bạch Quốc An: Đóng góp của Việt Nam vào ASEAN, VN có nhiều đóng góp. Thể hiện sự chủ động, tích cực của VN trong hội nhập quốc tế. VN đã đề suất được nhiều chủ trường, đường lối, hợp tác. Việt Nam tham gia giúp cho vai trò của ASEAN trên cộng đồng quốc tế được tăng cao hơn. Tăng được tính cạnh tranh của khối trên thị trường Quốc tế. Trong hợp tác pháp luật, Việt Nam cũng đóng một vai trò rất tích cực. Chẳng hạn năm vừa rồi, chúng ta đã tổ chức thành công diễn đàn pháp luật ASEAN. Trong thời gian làm chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã thúc đẩy nhiều chương trình hợp tác, cả về kinh tế và trong các lĩnh vực cụ thể như đăng cai nhiều hội nghị kinh tế và chuyên ngành.

Ông Bạch Quốc An trả lời câu hỏi của bạn đọc Trịnh Thanh Tú

Bạn đọc Lê Thế Minh, Sóc Trăng hỏi ông Bạch Quốc An: Tôi có nghe nói đến một số dịch vụ được cung cấp tự do trong cộng đồng này. Xin các ông giải thích rõ giúp tôi là các dịch vụ đó là dịch vụ nào, được “cung cấp tự do” có nghĩa là như thế nào? 

Ông Bạch Quốc An: Trong ASEAN có một danh mục các lĩnh vực dịch vụ có thể được thừa nhận bằng cấp để cung cấp trong ASEAN. Cụ thể là khi một người được đào tạo ở một nước ASEAN, thì bằng cấp của người này được công nhận ở nước ASEAN khác, và người đó có thể dùng bằng cấp này để hành nghề. Cung cấp tự do có nghĩa là chứng chỉ đào tạo nghề ở quốc gia ASEAN này, được thừa nhận tại quốc gia ASEAN khác mà không đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải đào tạo lại hay sát hạch để có các chứng chỉ tại quốc gia sử dụng dịch vụ. Các lĩnh vực mà các nước ASEAn đã thừa nhận bằng cấp của nhau bao gồm: MRA trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật (2005); MRA trong lĩnh vực dịch vụ điều dưỡng (2006) , MRA trong lĩnh vực dịch vụ kiến trúc và giám sát (2007)’ MRA trong lĩnh vực kế toán, MRA đối với nghề bác sỹ và nha sỹ’ MRA đối với các chuyên viên du lịch. 

Bạn đọc Đặng Tiến Đông, Email:thanhtrang1990@gmail.com) xin hỏi ông Bạch Quốc An, ông có thể cho biết hiện nay trong ASEAN có cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại chung giữa các nước thành viên hay không? Cơ chế giải quyết này được thực hiện thế nào?

Ông Bạch Quốc An: Trong ASEAN có hiệp định và nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp trong ASEAN. Cơ chế này được thực hiện tương tự cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế khác. Và được xây dựng tương tự cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế giới WTO.

Bạn đọc Hoàng Minh ở Thái Bình hỏi ông Vũ Hồ: Tôi có thể mua nhà ở các nước trong cộng đồng ASEAN không?

Ông Vũ Hồ: Bạn có thể hoàn toàn làm được điều đó, nếu bạn đáp ứng các tiêu chuẩn cũng như các quy định về pháp lý của quốc gia bạn có ý định muốn mua nhà. Ví dụ ở Thái Lan, bạn hoàn toàn có thê rmua nhà ở các khu nghỉ dưỡng nổi tiếng thế giới, nếu bạn có đủ tiềm lực kinh tế, tài chính và có thể dáp ứng đủ các yêu cầu của Thái Lan về việc công dân bên ngoài sở hữu tài sản ở Thái Lan. 

Bạn đọc Lê Như Quỳnh, Bình Phước hỏi ông Vũ Hồ: Làm kinh tế với doanh nhân thuộc khối ASEAN có lợi hơn gì không, so với làm kinh tế ở các nước khác?

Ông Vũ Hồ: Với sự tương đồng trong nhận thức, tất cả lợi ích hoặc lợi nhuận thu được, làm kinh tế với một doanh nghiệp thuộc khối ASEAN thì có một số lợi ích như sau:

- Bạn sẽ được bảo hộ bởi chính phủ nước mình, trong trường hợp này là chính phủ Việt Nam. Ngoài ra bạn tiếp tục được bảo hộ bởi các chính sách chung về kinh tế của ASEAN với bên ngoài. - Nếu doanh nghiệp của bạn có thể có khả năng mở rộng ra ngoài khu vực Đông Nam Á và tham gia vào thị trường quốc tế, bạn sẽ được bảo hộ bởi các Hiệp định hoặc các thỏa thuận về hợp tác kinh tế giữa ASEAN với bên đối tác đó.

- Ngoài được bảo hộ như trên, doanh nghiệp của bạn sẽ có được những kinh nghiệm mới, tri thức mới để tiếp tục mở rộng và phát triển không những trong khu vực mà còn với thị trường ngoài ASEAN. - Nhân sự của bạn sẽ được đào tạo, nâng cấp, trở thành nhân sự cấp khu vực và xa hơn nữa, nhân sự cấp quốc tế.

Bạn đọc Trần Mai Hương, Hà Nội hỏi ông Vũ Hồ: Chúng ta đã tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN, tại sao hàng hóa của ta vẫn đắt hơn của các nước trong cộng đồng này?

Ông Vũ Hồ: Theo cá nhân tôi nghĩ, trong nền kinh tế thị trường, sản xuất mặt hàng gì, bán nó ra sao là quyết định của doanh nghiệp. Có lợi nhuận hay không lợi nhuận là do thị trường quyết định. Tương tự đối với cộng đồng kinh tế ASEAN, quyết định đứng ngoài hay tham gia cộng đồng này là của từng nước. Thu được lợi ích gì từ cộng đồng là do sự phát triển của cộng đồng. Đối với câu hỏi của bạn cũng vậy, trước hết, cần xác định doanh nghiệp Việt Nam làm gì cho cộng đồng ASEAN hơn là ngược lại yêu cầu cộng đồng ASEAN phải mang lại gì cho doanh nghiệp. Mục tiêu của cộng đồng kinh tế ASEAN là tạo dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển.

Như vậy, đối với câu hỏi của bạn, có lẽ, doanh nghiệp Việt Nam nên tự hỏi lại chính mình, đã có chính sách sảm xuất, kinh doanh bảo đảm hàng hóa của mình đáp ứng đúng nhu cầu của người dân, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như các chi phí ngang với mặt bằng khu vực.

Bạn đọc Nguyễn Thanh Xuân ở Đà Nẵng gửi câu hỏi tới ông Vũ Hồ:  hiện nay tình hình an ninh chính trị tại các nước ASEAN có nhiều sự bất ổn, như sự nổi lên chủ nghĩa khủng bố như tại Philippines, Malasia..., cũng như tình hình tranh chấp trên Biển Đông và giữa các quốc gia trong ASEAN. Vậy tôi muốn biết, vai trò của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc giữ gìn an ninh, chính trị trong khu vực như thế nào?.
Hòa bình, ổn định là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới. Là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng quốc tế, ASEAN cần có tiếng nói, đóng góp thiết thực để hiện thực hóa mục tiêu này. Chính vì vậy từ khi thành lập đến nay, một trong những mục tiêu chính của ASEAN là tạo dựng môi trường thuận lợi cho đối thoại và hợp tác, giúp các nước tìm tiếng nói chung trong phấn đấu vì hòa bình và ổn định, hướng tới phát triển và phồn vinh của cả khu vực. - Hiện nay, khu vực Đông Nam Á, Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, thế giới nói chung đều đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có những thách thức mang tính truyền thống như tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải và những thách thức phi truyền thống như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nạn khủng bố...
Ông Vũ Hồ trả lời câu hỏi của bạn đọc Nguyễn Thanh Xuân

Trong nhiều năm qua, trong nội bộ ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác đã có nhiều trao đổi, đề cập các vấn đề này, từ đó tìm ra tiếng nói chung ứng phó hiệu quả với các thách thức đang đặt ra. Ví dụ, trong vấn đề Biển Đông, nguyên tắc của ASEAN là đề cao hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông, giải quyết các tranh chấp trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước về Luật biển 1982, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý trong khu vực, thực hiện đầy đủ và nghiêm túc tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và phấn đấu sớm đạt được Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Với những nguyên tắc trên, ASEAN đã nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nói chung, khu vực nói riêng. Các đối tác đều tôn trọng và đánh giá cao vai trò của ASEAN trong các nội dung này. Các cường quốc đều cho rằng ASEAN cần tiếp tục đóng vai trò trumg tâm trong tất cả các tiến trình khu vực.

Bạn đọc Đặng Tiến Đông ở Cà Mau hỏi ông Bạch Quốc An: Những cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào cộng đồng kinh tế chung ASEAN? Và, Việt Nam hiện nay có những chính sách hay cơ chế gì hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường các nước ASEAN hay không?

Ông Bạch Quốc An: Cơ hội và thách thức như tôi đã nói: đó là tiếp cận thị trường đông dân, hàng rào thuế quan thấp, hàng rào kỹ thuật không phức tạp. Tuy nhiên, thách thức ở đây là hàng hóa tương tự nhau, chi phí sản xuất giữa các nước ASEAn không khác nhau nhiều, nên tính cạnh tranh tương đối cao.

Đối với các doanh nghiệp, nếu nhà nước trực tiếp hỗ trợ, thì sẽ vi phạm các quy định của pháp luật thương mại Quốc tế. Chính vì vậy, việc hỗ trợ của nhà nước sẽ chỉ có thể dừng ở việc cung cấp thông tin về thị trường của các nước ASEAN, trong trường hợp cần thiết, có thể có sự bảo vệ về mặt pháp lý đối với các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở các nước ASEAN khác.

Bạn đọc Tống Lan Anh ở Đồng Nai, xin được hỏi ông Vũ Hồ: hiện nay tình hình an ninh chính trị tại các nước ASEAN có nhiều sự bất ổn, như sự nổi lên chủ nghĩa khủng bố như tại Philippines, Malasia..., cũng như tình hình tranh chấp trên Biển Đông và giữa các quốc gia trong ASEAN. Vậy tôi muốn biết, vai trò của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc giữ gìn an ninh, chính trị trong khu vực như thế nào?.

Ông Vũ Hồ: Hòa bình, ổn định là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới. Là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng quốc tế, ASEAN cần có tiếng nói, đóng góp thiết thực để hiện thực hóa mục tiêu này.

Chính vì vậy từ khi thành lập đến nay, một trong những mục tiêu chính của ASEAN là tạo dựng môi trường thuận lợi cho đối thoại và hợp tác, giúp các nước tìm tiếng nói chung trong phấn đấu vì hòa bình và ổn định, hướng tới phát triển và phồn vinh của cả khu vực.Hiện nay, khu vực Đông Nam Á, Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, thế giới nói chung đều đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có những thách thức mang tính truyền thống như tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải và những thách thức phi truyền thống như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nạn khủng bố...

Trong nhiều năm qua, trong nội bộ ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác đã có nhiều trao đổi, đề cập các vấn đề này, từ đó tìm ra tiếng nói chung ứng phó hiệu quả với các thách thức đang đặt ra. Ví dụ, trong vấn đề Biển Đông, nguyên tắc của ASEAN là đề cao hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông, giải quyết các tranh chấp trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước về Luật biển 1982,tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý trong khu vực, thực hiện đầy đủ và nghiêm túc tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và phấn đấu sớm đạt được Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Với những nguyên tắc trên, ASEAN đã nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nói chung, khu vực nói riêng. Các đối tác đều tôn trọng và đánh giá cao vai trò của ASEAN trong các nội dung này. Các cường quốc đều cho rằng ASEAN cần tiếp tục đóng vai trò trumg tâm trong tất cả các tiến trình khu vực.

Bạn đọc Nguyễn Thanh Loan, Hà Nội hỏi ông Vũ Hồ: Được biết ASEAN và Trung Quốc đang trao đổi về xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, vậy xin cho biết, kết quả hiện nay như thế nào và tác dụng của Bộ Quy tắc này đối với các tranh chấp trên biển ra sao?

Ông Vũ Hồ: ASEAN và Trung Quốc đã khởi động trao đổi về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông từ lâu, hướng tới điều chỉnh hành vi của các bên trên Biển Đông. Hiện nay hai bên đã cam kết sẽ tiếp tục trao đổi về vấn đề này trong thời gian tới, và mong muốn sẽ đạt được một Bộ Quy tắc ứng xử phù hợp, ràng buộc về pháp lý, từ đó, đóng góp một cách thiết thực cho hòa bình, ổn định, đối thoại và hợp tác trong khu vực nói chung, giữa ASEAN và Trung Quốc nói riêng.

Bạn đọc Trần Nguyễn, Long An hỏi ông Vũ Hồ: Tôi nghe nói các nước ASEAN khi giao thương vơi nhau sẽ được giảm thuế quan theo một lộ trình nhất định. Tuy nhiên, với sức cạnh tranh của Việt Nam hiện nay là không cao, nếu cắt giám thuế quan như vậy, thì có thể bảo vệ được hàng hóa trong nước hay không?

Ông Vũ Hồ: Thứ nhất, việc cắt giảm thuế quan là một xu thế chung, bắt buộc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xét về khía cạnh hội nhập kinh tế khu vực, cắt giảm thuế quan sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế, thu hút thêm đầu tư từ bên ngoài khu vực và nâng cao năng lực của cộng đồng doanh nghiệp quốc gia.

Đối với từng nước tham gia các hiệp định/hiệp ước về hợp tác kinh tế quốc tế song phương và đa phương ngoài các ý nghĩa trên, còn có thêm một ý nghĩa nữa là khẳng định quyết tâm của các chính phủ đóng góp vào hợp tác vì phồn vinh, từ đó tạo dựng thế đứng mới trong khu vực và trên đấu trường quốc tế.

Bạn Bùi Phương Thảo, Sinh viên Đại học Luật hỏi ông Bạch Quốc An: Em đang là sinh viên trường Luật, em được biết ASEAN được hình thành trên cơ sở 03 trụ cột chính là: cộng đồng an ninh-chính trị; cộng đồng kinh tế; cộng đồng văn hóa-xã hội. Vậy, em muốn hỏi trong 03 trụ cột này trụ cột nào là quan trọng nhất và hiện nay, ASEAN đã hoàn thành việc xây dựng 03 cộng đồng này hay chưa?

Ông Bạch Quốc An: Cộng đồng ASEAN được hình thành trên cơ sở 3 cộng đồng như bạn nói. 3 trụ cột này đều có tầm quan trọng như nhau. Vì cùng hướng tới xây dựng một cộng đồng. Mà cộng đồng thì phải đầy đủ cả 3 yếu tố. Hiện nay đang trong quá trình hoàn tất xây dựng 3 trụ cột này.

Cũng nói thêm rằng trong ba trụ cột này, thì cộng đồng kinh tế là trụ cột được xây dựng đầu tiên, và có sự phát triển sâu rộng nhất.

Bạn đọc Lê Xuân Giang, Hà Nội hỏi ông Bạch Quốc An: Tôi có nghe nói đến cơ chế một cửa Asean, xin hỏi cơ chế này quy định về những nội dung gì, và vận hành (thực hiện) như thế nào?

Ông Bạch Quốc An: Có thể hiểu đơn giản là đã kiểm tra Hải quan ở một nước ASEAN thì không phải kiểm tra ở nước ASEAN khác. Ngoài ra, tất cả những việc kiểm tra khác như kiểm dịch, tiêu chuẩn chất lượng,.. đều chỉ thực hiện tại một điểm, khi lưu chuyển ở các nước ASEAN khác sẽ không phải kiểm tra lại. Điều này có nghĩa là khi hàng hóa nhập vào một nước ASEAN thì sẽ được xử lý ở hải quan nước đó, và có quyết định thông quan thì khi đưa vào một quốc gia khác sẽ không phải thực hiện thủ tục hải quan nữa, chỉ phải xuất trình quyết định thông quan nêu trên.

Những câu hỏi bạn đọc đang tiếp tục gửi về Chương trình sẽ được Báo PLVN chuyển tới các chuyên gia phản hồi trong thời gian sớm nhất

Trong thời gian gần 2 tiếng đồng hồ, 2 chuyên gia: Ông Bạch Quốc An, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp và ông Vũ Hồ, Q. Vụ trưởng Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao đã giải đáp nhiều câu hỏi của độc giả quan tâm tới ASEAN và vai trò của Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Những câu hỏi độc giả tiếp tục gửi về Toà soạn sẽ được Báo PLVN chuyển tới các chuyên gia phản hồi trong thời gian sớm nhất. 

Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật và Báo Pháp luật Việt Nam trân trọng cảm ơn sự quan tâm, theo dõi của Quý độc giả. https://www.youtube.com/watch?v=ZshB_xFP9FQ

Báo Pháp luật Việt Nam

Ra đời năm 1967 với 5 thành viên, năm 1984 ASEAN kết nạp Bru-nây ngay sau khi nước này được độc lập. Việt Nam và Lào trở thành quan sát viên của ASEAN năm 1992. Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN. Mi-an-ma và Lào gia nhập ASEAN năm 1997. Căm-pu-chia được kết nạp vào ASEAN tại Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 1999, hoàn tất mục tiêu của ASEAN trở thành một tổ chức khu vực với đầy đủ 10 quốc gia thành viên Đông Nam Á.

 

Trong hơn 40 năm phát triển, ASEAN đã có nhiều biện pháp và sáng kiến nhằm thích ứng với những thay đổi trong môi trường thế giới và khu vực:

- 1971: Những thay đổi nhanh chóng trong khu vực và trên thế giới đặc biệt trong quan hệ giữa các nước lớn như: căng thẳng trong quan hệ Liên Xô - Trung Quốc, cải thiện quan hệ Trung Quốc - Mỹ, sự ra đời của học thuyết Nixon “Vấn đề của châu Á do châu Á tự giải quyết” làm dấy lên lo ngại khu vực sẽ bị đẩy vào một cuộc tranh chấp mới giữa các cường quốc, ASEAN ra Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN), nhấn mạnh quyết tâm giữ khu vực trung lập, không liên kết, qua đó giữ vững hòa bình, ổn định và an ninh khu vực, hạn chế can thiệp của lực lượng bên ngoài vào công việc nội bộ của khu vực.

- 1976: Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, chiến tranh Đông Dương kết thúc và việc Mỹ rút khỏi khu vực đã thôi thúc các nước ASEAN tăng cường hợp tác nhằm gia tăng sức mạnh của Hiệp hội, theo đó ra Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Ba-Li I) thể hiện quyết tâm thúc đẩy hợp tác khu vực, đồng thời gửi đi tín hiệu thân thiện, hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực thông qua Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), kêu gọi các quốc gia trong khu vực cùng hợp tác vì hòa bình, an ninh chung, giải quyết xung đột, tranh chấp bằng đàm phán hòa bình.

- 1992: Cùng với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh, ASEAN đã ký Hiệp định khung về chương trinh ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (CEPT/AFTA), bắt đầu tiến trình tự do hóa kinh tế khu vực. Cũng trong năm 1992, ASEAN ra Tuyên bố về Biển Đông xác lập nguyên tắc giải quyết các mâu thuẫn ở khu vực này bằng biện pháp hòa bình trước bối cảnh Chiến tranh lạnh đã kết thúc và môi trường an ninh khu vực đang có những biến chuyển sâu sác.

- 1993-1994: ASEAN bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại, thúc đẩy đối thoại về an ninh ở khu vực thông qua việc lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26 (tháng 7 năm 1993). Diễn đàn ARF đầu tiên đã được tổ chức vào năm 1994.

- 1995: ASEAN có hai bước tiến quan trọng: (1) Kết nạp Việt Nam (ngày 28 tháng 7 năm 1995), bắt đầu tiến trình mở rộng ASEAN; (2) Ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không Vũ khí Hạt nhân (SEANWFZ), hưởng ứng phong trào giải trừ quân bị đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới sau Chiến tranh lạnh và hiện thực hóa Tuyên bố về khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN).

- 1996: Để cân bằng quan hệ ngày càng tăng cường giữa ASEAN với các nước Đông Á khác và với châu Mỹ qua khuôn khổ APEC, ASEAN đã thống nhất thành lập Diễn đàn Á - Âu (ASEM) và họp lần đầu tiên ngày 1-2 tháng 3 năm 1996 tại Băng-cốc, Thái Lan.

- 1997-1999: Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 thúc đẩy tiến trình hợp tác Đông Á ra đời và được thể chế hóa năm 1999 với Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á tại hội nghị ASEAN+3 lần thử 3 ở Ma-ni-la, Phi-líp-pin. Trước viễn cảnh ASEAN sẽ sớm hoàn tất việc mở rộng bao gồm cả 10 nước Đông Nam Á, mở ra trang sử mới cho khu vực, ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020, với mục tiêu hướng tới một cộng đồng khu vực hòa bình, ổn định, hài hòa và phát triển thịnh vượng.

- 1998: Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Hà Nội (ngày 16-17 tháng 12 năm 1998), ASEAN đã thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) nhằm triển khai thực hiện Tuyên bố Tầm nhìn giai đoạn 1998-2004.

- 2002: Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề Biển Đông, ASEAN và Trung Quốc ký bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở Phnôm Pênh, quy định cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, cam kết sẽ hợp tác xây dựng lòng tin và hướng tới xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

- 2003: ASEAN tiến một bước nữa trong việc tăng cường liên kết khu vực khi cho ra đời Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Ba-li II), xác định mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN gồm ba trụ cột Cộng đồng An ninh(1), Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội.

- 2005: Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần đầu tiên được tổ chức tại Kua-la Lăm-pơ với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôt-xtrây-li-a và Niu Di-lân.

- 2007: Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007 là một bước phát triển quan trọng nhất của ASEAN kể từ khi thành lập, thông qua việc trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN, tạo nền tảng pháp lý và thể chế để ASEAN xây dựng Cộng đồng.

- 2008: Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực ngày 15 tháng 12 năm 2008.

- 2009: Lộ trình Xây dựng Cộng đồng ASEAN và 3 Kế hoạch tổng thể về xây dựng Cộng đồng được ASEAN thông qua nhằm xác định các bước đi cụ thể hướng tới Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Các tin đã đưa ngày: